19 Dec 2017

Một số chú ý khi kiểm tra, thay xéc măng mới

Chọn đúng cốt kích thước của xéc măng cho phù hợp với cốt kích thước của xy lanh. Xéc măng cũng được chế tạo với các kích thước đường kính ngoài khác nhau phù hợp với các kích thước cốt sửa chữa của xy lanh. Nếu chọn xéc măng có đường kính lớn rồi sửa miệng để lắp vào xy lanh có đường kính nhỏ thì mặt dù khe hở miệng có thể đảm bảo nhưng xéc măng sẽ bị méo và hở lưng khi lắp vào xy lanh.

Kiểm tra khe hở miệng của tất cả các xéc măng trong xy lanh. việc kiểm tra được thực hiện đối với từng xéc măng bằng cách lắp xéc măng vào xy lanh, dùng pit-tông đẩy nó xuống khu vực phía dưới vùng ma sát giữa xéc măng và xy lanh và dùng thước lá đo khe hở miệng của nó như hình 6 - 19. Nếu khe hở quá nhỏ so với khe hở yêu cầu đối với từng kích thước xy lanh như đã nói ở trên phải tháo xéc măng đó ra và dùng giũa nhỏ để giũa bớt, sửa chữa miệng như hình 6 - 20 để đảm bảo yêu cầu 0,2 - 0,5 mm. Trong sửa chữa, khi chỉ thay xéc măng hoặc xéc măng và pit-tông mà không sửa chữa xy lanh có thể cho phép khe hở miệng lớn nhất của xéc măng đến 1,2 -1,5 mm. nếu để khe hở quá nhỉ thì khi xéc măng bị giãn nở nhiệt trong quá trình làm việc có thể gây kích miệng và bị kẹt trong xy lanh. Còn nếu khe hở miệng quá lớn sẽ làm giảm khả năng bao kín buồng cháy của xéc măng

Kiểm tra khe hở ánh sáng giữa lưng xéc măng và xy lanh. Lắp xéc măng vào giữa xy lanh, dùng đèn chiếu sáng chiếu ngược từ dưới lên rồi nhìn khe hở ánh sáng giữa lưng xéc măng và xy lanh. Nếu khe hở ánh sáng phân bố đều quanh chu vi là được, còn ngược lại thì xéc măng bị méo.

-        Lăn xéc măng trên rãnh.

-        Dùng thước là kiểm tra khe hở giữa xéc măng và mặt bên của rãnh.

Kiểm tra khe hở lắp ghép giữa xéc măng và mặt cạnh rãnh trên pit-tông. trước hết, làm sạch các rãnh xéc măng trên pit-tông, sau đó lăn các xéc măng trên rãnh của chúng để kiểm tra độ trơn tru và xem chúng có bị kẹt không như hình 6- 21a. Nếu khi lăn thấy trơn tru thì tiến hành kiểm tra khe hở cạnh của xéc măng trong rãnh. Việc kiểm tra khe hở cạnh được thực hiện bằng cách đặc thước lá vào giữa xéc măng và mặt cạnh của rãnh pit-tông khi mặt lưng xéc măng tì vào đáy rãnh. Để kiểm tra được chính xác nên lắp xéc măng vào rãnh trên pit-tông rồi dùng thước lá đo khe hở giữa xéc măng và mặt cạnh của rãnh như trên hình 6- 21b. Khe hở cạnh: 0,0025 ^ 0,1 mm. Nếu khe hở quá nhỏ có thể gây kẹt xéc măng trong rãnh, còn khe hở quá lớn gây làm hỏng hoặc giảm tuổi thọ của xéc măng, pit-tông và gây lọt khí.

Kiểm tra khe hở lưng của xéc măng trong rãnh trên pit-tông bằng cách ấn xéc măng cho mặt trong xéc măng tì vào đáy rãnh rồi kiểm tra độ thụt của mặt lưng đối diện điểm tì so với mặt ngoài của pit-tông. Mặt lưng của xéc măng tại điểm kiểm tra phải thấp hơn bờ rãnh ít nhất 0,12 mm để đảm bảo cho xéc măng không bị kẹt giữa pit-tông và xy lanh trong quá trình làm việc. Có thể đặt một thước thẳng qua đầu pit-tông và xéc măng rồi dùng thước lá nhỏ đo khe hở giữa mặt lưng xéc măng và thước hoặc lăn mặt lưng xéc măng trên rãnh và đo khoảng cách giữa mặt trong tại điểm kiểm tra so với mặt bờ rãnh. Cũng có thể dùng thước đo độ sâu để đo độ sâu của rãnh xéc măng trên pit-tông và dùng pame đo chiều dày (khoảng cách từ mặt trong đến mặt lưng) của xéc măng rồi so sánh. c. Kiểm tra chốt pit-tông

Trong đa số các động cơ ô tô hiện nay, chốt pit-tông được lắp tự do với bạc đầu nhỏ thanh truyền và lỗ trên bệ chốt pit-tông. Trong quá trình làm việc, chốt pit-tông có thể quay tự do trên bệ chốt và tên bạc đầu nhỏ thanh truyền. Do đó, chốt có thể bị mòn trên toàn bộ bề mặt làm việc của nó. Chốt pit-tông thường không sửa chữa mà được thay mới. Chốt pit- tông thường được cung cấp cùng bộ với pit-tông nên khi thay pit-tông thường thay luôn cả chốt. Chốt pit-tông thường được chế tạo theo kích thước nguyên thủy của nó, tuy nhiên chốt pit-tông của một số động cơ có thể có một kích thước tăng lớn 0,025 mm và 0,05 mm để thay cho các chốt mòn trong sửa chữa khi dùng lại pit-tông và bạc đầu nhỏ thanh truyền. Đôi khi bạc đầu nhỏ thanh truyền được chế tạo ở dạng bán thành phẩm, sau khi ép vào đầu nhỏ thanh truyền người ta doa lại theo kích thước chốt và đảm bảo khe hở theo yêu cầu. Nếu lắp chốt vào mà quay trơn tru và lắc kiểm tra không thấy có độ rơ là được.

 

Chọn đúng cốt kích thước của xéc măng cho phù hợp với cốt kích thước của xy lanh. Xéc măng cũng được chế tạo với các kích thước đường kính ngoài khác nhau phù hợp với các kích thước cốt sửa chữa của xy lanh. Nếu chọn xéc măng có đường kính lớn rồi sửa miệng để lắp vào xy lanh có đường kính nhỏ thì mặt dù khe hở miệng có thể đảm bảo nhưng xéc măng sẽ bị méo và hở lưng khi lắp vào xy lanh.

Kiểm tra khe hở miệng của tất cả các xéc măng trong xy lanh. việc kiểm tra được thực hiện đối với từng xéc măng bằng cách lắp xéc măng vào xy lanh, dùng pit-tông đẩy nó xuống khu vực phía dưới vùng ma sát giữa xéc măng và xy lanh và dùng thước lá đo khe hở miệng của nó như hình 6 - 19. Nếu khe hở quá nhỏ so với khe hở yêu cầu đối với từng kích thước xy lanh như đã nói ở trên phải tháo xéc măng đó ra và dùng giũa nhỏ để giũa bớt, sửa chữa miệng như hình 6 - 20 để đảm bảo yêu cầu 0,2 - 0,5 mm. Trong sửa chữa, khi chỉ thay xéc măng hoặc xéc măng và pit-tông mà không sửa chữa xy lanh có thể cho phép khe hở miệng lớn nhất của xéc măng đến 1,2 -1,5 mm. nếu để khe hở quá nhỉ thì khi xéc măng bị giãn nở nhiệt trong quá trình làm việc có thể gây kích miệng và bị kẹt trong xy lanh. Còn nếu khe hở miệng quá lớn sẽ làm giảm khả năng bao kín buồng cháy của xéc măng

Kiểm tra khe hở ánh sáng giữa lưng xéc măng và xy lanh. Lắp xéc măng vào giữa xy lanh, dùng đèn chiếu sáng chiếu ngược từ dưới lên rồi nhìn khe hở ánh sáng giữa lưng xéc măng và xy lanh. Nếu khe hở ánh sáng phân bố đều quanh chu vi là được, còn ngược lại thì xéc măng bị méo.

-        Lăn xéc măng trên rãnh.

-        Dùng thước là kiểm tra khe hở giữa xéc măng và mặt bên của rãnh.

Kiểm tra khe hở lắp ghép giữa xéc măng và mặt cạnh rãnh trên pit-tông. trước hết, làm sạch các rãnh xéc măng trên pit-tông, sau đó lăn các xéc măng trên rãnh của chúng để kiểm tra độ trơn tru và xem chúng có bị kẹt không như hình 6- 21a. Nếu khi lăn thấy trơn tru thì tiến hành kiểm tra khe hở cạnh của xéc măng trong rãnh. Việc kiểm tra khe hở cạnh được thực hiện bằng cách đặc thước lá vào giữa xéc măng và mặt cạnh của rãnh pit-tông khi mặt lưng xéc măng tì vào đáy rãnh. Để kiểm tra được chính xác nên lắp xéc măng vào rãnh trên pit-tông rồi dùng thước lá đo khe hở giữa xéc măng và mặt cạnh của rãnh như trên hình 6- 21b. Khe hở cạnh: 0,0025 ^ 0,1 mm. Nếu khe hở quá nhỏ có thể gây kẹt xéc măng trong rãnh, còn khe hở quá lớn gây làm hỏng hoặc giảm tuổi thọ của xéc măng, pit-tông và gây lọt khí.

Kiểm tra khe hở lưng của xéc măng trong rãnh trên pit-tông bằng cách ấn xéc măng cho mặt trong xéc măng tì vào đáy rãnh rồi kiểm tra độ thụt của mặt lưng đối diện điểm tì so với mặt ngoài của pit-tông. Mặt lưng của xéc măng tại điểm kiểm tra phải thấp hơn bờ rãnh ít nhất 0,12 mm để đảm bảo cho xéc măng không bị kẹt giữa pit-tông và xy lanh trong quá trình làm việc. Có thể đặt một thước thẳng qua đầu pit-tông và xéc măng rồi dùng thước lá nhỏ đo khe hở giữa mặt lưng xéc măng và thước hoặc lăn mặt lưng xéc măng trên rãnh và đo khoảng cách giữa mặt trong tại điểm kiểm tra so với mặt bờ rãnh. Cũng có thể dùng thước đo độ sâu để đo độ sâu của rãnh xéc măng trên pit-tông và dùng pame đo chiều dày (khoảng cách từ mặt trong đến mặt lưng) của xéc măng rồi so sánh. c. Kiểm tra chốt pit-tông

Trong đa số các động cơ ô tô hiện nay, chốt pit-tông được lắp tự do với bạc đầu nhỏ thanh truyền và lỗ trên bệ chốt pit-tông. Trong quá trình làm việc, chốt pit-tông có thể quay tự do trên bệ chốt và tên bạc đầu nhỏ thanh truyền. Do đó, chốt có thể bị mòn trên toàn bộ bề mặt làm việc của nó. Chốt pit-tông thường không sửa chữa mà được thay mới. Chốt pit- tông thường được cung cấp cùng bộ với pit-tông nên khi thay pit-tông thường thay luôn cả chốt. Chốt pit-tông thường được chế tạo theo kích thước nguyên thủy của nó, tuy nhiên chốt pit-tông của một số động cơ có thể có một kích thước tăng lớn 0,025 mm và 0,05 mm để thay cho các chốt mòn trong sửa chữa khi dùng lại pit-tông và bạc đầu nhỏ thanh truyền. Đôi khi bạc đầu nhỏ thanh truyền được chế tạo ở dạng bán thành phẩm, sau khi ép vào đầu nhỏ thanh truyền người ta doa lại theo kích thước chốt và đảm bảo khe hở theo yêu cầu. Nếu lắp chốt vào mà quay trơn tru và lắc kiểm tra không thấy có độ rơ là được.