19 Dec 2017

QUI TRÌNH CÔNG NGHỆ BẢO DƯỠNG Ô TÔ

KHÁI NIỆM CHUNG

Bảo dưỡng là hàng loạt các công việc nhất định, bắt buộc phải thực hiện với các loại xe sau một thời gian làm việc, hay quãng đường qui định.

Mục đích:

Chủ yếu là kiểm tra, phát hiện những hư hỏng đột xuất, ngăn ngừa chúng để đảm bảo cho cụm máy, xe vận hành an toàn.

Chăm sóc các hệ thống, các cơ cấu để đảm bảo chúng làm việc an toàn và không bị hư hỏng.

Giữ gìn hình thức bên ngoài.

CÁC CẤP BẢO DƯỠNG

Bảo dưỡng ôtô, là công việc dự phòng được tiến hành bắt buộc sau một chu kỳ vận hành nhất định trong khai thác ôtô theo nội dung công việc đã quy định nhằm duy trì trạng thái kỹ thuật của ôtô.

Bảo dưỡng ôtô còn là biện pháp giúp chủ phương tiện hoặc người lái xe ôtô thực hiện trách nhiệm duy trì tình trạng kỹ thuật của phương tiện theo tiêu chuẩn quy định khi tham gia giao thông đường bộ giữa hai kỳ kiểm định như quy định tại Khoản 5, Điều 50 Luật Giao thông đường bộ. Tuỳ theo cấp bảo dưỡng mà mức độ có khác nhau. Bảo dưỡng chia làm 2 cấp.(theo quyết định số 992/2003/QĐ-BGTVT ngày 09/04/2003).

Bảo dưỡng hàng ngày.

Bảo dưỡng định kỳ.

Bảo dưỡng hàng ngày

Bảo dưỡng hàng ngày do lái xe, phụ xe hoặc công nhân trong trạm bảo dưỡng chịu trách nhiệm và được thực hiện trước hoặc sau khi xe đi hoạt động hàng ngày, cũng như trong thời gian vận hành. Nếu kiểm tra thấy tình trạng xe bình thường thì mới chạy xe. Nếu phát hiện có sự không bình thường thì phải tìm và xác định rõ nguyên nhân. Ví dụ: Khó khởi động, máy nóng quá, tăng tốc kém, hệ thống truyền lực quá ồn hoặc có tiếng va đập, hệ thống phanh, hệ thống lái không trơn tru, hệ thống đèn, còi làm việc kém hoặc có trục trặc...

Phương pháp tiến hành kiểm tra chủ yếu là dựa vào quan sát, nghe ngóng, phán đoán và dựa vào kinh nghiệm tích luỹ được.

Yêu cầu thời gian kiểm tra phải ngắn.

Kiểm tra, chẩn đoán.

Việc kiểm tra, chẩn đoán ôtô được tiến hành ở trạng thái tĩnh (không nổ máy) hoặc trạng thái động (nổ máy, có thể lăn bánh).

Quan sát toàn bộ bên ngoài và bên trong ôtô, phát hiện các khiếm khuyết của buồng lái, thùng xe, kính chắn gió, gương chiếu hậu, biển số, cơ cấu nâng hạ kính, cửa lên xuống, nắp động cơ, khung, nhíp, lốp và áp suất hơi lốp, cơ cấu nâng hạ (nếu có) và trang bị kéo moóc...

Kiểm tra hệ thống điện: ắc qui, sự làm việc ổn định của các đồng hồ trong buồng lái, đèn tín hiệu, đèn pha, cốt, đèn phanh, còi, gạt nước, cơ cấu rửa kính, hệ thống quạt gió...

Kiểm tra hệ thống lái: Hành trình tự do của vành tay lái, trạng thái làm việc của bộ trợ lực tay lái, hình thang lái.

Kiểm tra hệ thống phanh: Hành trình tự do của bàn đạp phanh, trạng thái làm việc và độ kín của tổng phanh, các đường dẫn hơi, dầu, hiệu lực của hệ thống phanh...

Kiểm tra sự làm việc ổn định của động cơ, các cụm, tổng thành và các hệ thống khác (hệ thống cung cấp nhiên liệu, bôi trơn, làm mát, truyền lực chính, cơ cấu nâng hạ...).

Tìm hiểu về xe máy tiết kiệm nhiên liệu

Có khi nào bạn tự hỏi vì sao trọng lượng ướt của một chiếc xe lại chênh lệnh rất nhiều so với khô, điển hình là ở chiếc 899 kể trên chênh nhau tới 24kg trong khi xe có bình xăng chỉ 17 lít, nếu đổ đầy lượng xăng này chỉ nặng khoảng 15kg mà thôi. Thực ra, "trọng lượng khô" là một thuật ngữ do các nhà sản xuất đặt ra để quảng cáo cho chiếc xe của mình, con số này sẽ được làm thấp nhất có thể để xe càng nhẹ càng tốt, vì vậy cân nặng của một chiếc xe khi nói về trọng lượng khô sẽ không bao gồm các thứ như sau: nhiên liệu, bình ac-qui, nước làm mát (coolant), dầu thắng, nhớt máy, nhớt hộp số (láp), nước rửa kính và dầu trợ lực tay lái (nếu là xe hơi). 

Tóm lại, trọng lượng khô của một chiếc xe có thể được hiểu nôm na là cân nặng của chiếc xe sau khi đã sản xuất hoàn tất và chuẩn bị xuất xưởng. Chiếc xe này khi được bán tới người tiêu dùng thì sẽ được gắn thêm bình ac-qui, đổ nhớt, coolant, dầu thắng, nước rửa kính (xe hơi)... và sau khi đầy bình xăng thì ta sẽ có trọng lượng ướt của xe, dĩ nhiên là không tính người ngồi trên xe và hàng hóa nhé.

KHÁI NIỆM CHUNG

Bảo dưỡng là hàng loạt các công việc nhất định, bắt buộc phải thực hiện với các loại xe sau một thời gian làm việc, hay quãng đường qui định.

Mục đích:

Chủ yếu là kiểm tra, phát hiện những hư hỏng đột xuất, ngăn ngừa chúng để đảm bảo cho cụm máy, xe vận hành an toàn.

Chăm sóc các hệ thống, các cơ cấu để đảm bảo chúng làm việc an toàn và không bị hư hỏng.

Giữ gìn hình thức bên ngoài.

CÁC CẤP BẢO DƯỠNG

Bảo dưỡng ôtô, là công việc dự phòng được tiến hành bắt buộc sau một chu kỳ vận hành nhất định trong khai thác ôtô theo nội dung công việc đã quy định nhằm duy trì trạng thái kỹ thuật của ôtô.

Bảo dưỡng ôtô còn là biện pháp giúp chủ phương tiện hoặc người lái xe ôtô thực hiện trách nhiệm duy trì tình trạng kỹ thuật của phương tiện theo tiêu chuẩn quy định khi tham gia giao thông đường bộ giữa hai kỳ kiểm định như quy định tại Khoản 5, Điều 50 Luật Giao thông đường bộ. Tuỳ theo cấp bảo dưỡng mà mức độ có khác nhau. Bảo dưỡng chia làm 2 cấp.(theo quyết định số 992/2003/QĐ-BGTVT ngày 09/04/2003).

Bảo dưỡng hàng ngày.

Bảo dưỡng định kỳ.

Bảo dưỡng hàng ngày

Bảo dưỡng hàng ngày do lái xe, phụ xe hoặc công nhân trong trạm bảo dưỡng chịu trách nhiệm và được thực hiện trước hoặc sau khi xe đi hoạt động hàng ngày, cũng như trong thời gian vận hành. Nếu kiểm tra thấy tình trạng xe bình thường thì mới chạy xe. Nếu phát hiện có sự không bình thường thì phải tìm và xác định rõ nguyên nhân. Ví dụ: Khó khởi động, máy nóng quá, tăng tốc kém, hệ thống truyền lực quá ồn hoặc có tiếng va đập, hệ thống phanh, hệ thống lái không trơn tru, hệ thống đèn, còi làm việc kém hoặc có trục trặc...

Phương pháp tiến hành kiểm tra chủ yếu là dựa vào quan sát, nghe ngóng, phán đoán và dựa vào kinh nghiệm tích luỹ được.

Yêu cầu thời gian kiểm tra phải ngắn.

Kiểm tra, chẩn đoán.

Việc kiểm tra, chẩn đoán ôtô được tiến hành ở trạng thái tĩnh (không nổ máy) hoặc trạng thái động (nổ máy, có thể lăn bánh).

Quan sát toàn bộ bên ngoài và bên trong ôtô, phát hiện các khiếm khuyết của buồng lái, thùng xe, kính chắn gió, gương chiếu hậu, biển số, cơ cấu nâng hạ kính, cửa lên xuống, nắp động cơ, khung, nhíp, lốp và áp suất hơi lốp, cơ cấu nâng hạ (nếu có) và trang bị kéo moóc...

Kiểm tra hệ thống điện: ắc qui, sự làm việc ổn định của các đồng hồ trong buồng lái, đèn tín hiệu, đèn pha, cốt, đèn phanh, còi, gạt nước, cơ cấu rửa kính, hệ thống quạt gió...

Kiểm tra hệ thống lái: Hành trình tự do của vành tay lái, trạng thái làm việc của bộ trợ lực tay lái, hình thang lái.

Kiểm tra hệ thống phanh: Hành trình tự do của bàn đạp phanh, trạng thái làm việc và độ kín của tổng phanh, các đường dẫn hơi, dầu, hiệu lực của hệ thống phanh...

Kiểm tra sự làm việc ổn định của động cơ, các cụm, tổng thành và các hệ thống khác (hệ thống cung cấp nhiên liệu, bôi trơn, làm mát, truyền lực chính, cơ cấu nâng hạ...).

Tìm hiểu về xe máy tiết kiệm nhiên liệu

Có khi nào bạn tự hỏi vì sao trọng lượng ướt của một chiếc xe lại chênh lệnh rất nhiều so với khô, điển hình là ở chiếc 899 kể trên chênh nhau tới 24kg trong khi xe có bình xăng chỉ 17 lít, nếu đổ đầy lượng xăng này chỉ nặng khoảng 15kg mà thôi. Thực ra, "trọng lượng khô" là một thuật ngữ do các nhà sản xuất đặt ra để quảng cáo cho chiếc xe của mình, con số này sẽ được làm thấp nhất có thể để xe càng nhẹ càng tốt, vì vậy cân nặng của một chiếc xe khi nói về trọng lượng khô sẽ không bao gồm các thứ như sau: nhiên liệu, bình ac-qui, nước làm mát (coolant), dầu thắng, nhớt máy, nhớt hộp số (láp), nước rửa kính và dầu trợ lực tay lái (nếu là xe hơi). 

Tóm lại, trọng lượng khô của một chiếc xe có thể được hiểu nôm na là cân nặng của chiếc xe sau khi đã sản xuất hoàn tất và chuẩn bị xuất xưởng. Chiếc xe này khi được bán tới người tiêu dùng thì sẽ được gắn thêm bình ac-qui, đổ nhớt, coolant, dầu thắng, nước rửa kính (xe hơi)... và sau khi đầy bình xăng thì ta sẽ có trọng lượng ướt của xe, dĩ nhiên là không tính người ngồi trên xe và hàng hóa nhé.

Xem thêm các khái niệm về xe máy tiết kiệm xăng tại đây.

.